I. SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2012
Luật Xử lý vi phạm hành chính được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác quản lý nhà nước, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Qua quá trình triển khai thực hiện, các quy định của Luật đã phát huy vai trò tích cực trong việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm hành chính; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân; bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.
Đặc biệt, hệ thống các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được quy định trong Luật đã góp phần quan trọng bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành các quyết định xử phạt. Thông qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế, nhiều trường hợp cố tình chây ỳ, không chấp hành quyết định xử phạt đã được xử lý, qua đó bảo đảm các quyết định xử phạt được thực thi trên thực tế, hạn chế tình trạng nhờn luật, coi thường pháp luật.
Tuy nhiên, qua tổng kết thực tiễn thi hành Luật và quá trình tổ chức thực hiện tại các địa phương, cơ quan chức năng cho thấy vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Trong đó, nổi lên là việc một số cá nhân, tổ chức không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt nhưng cơ quan có thẩm quyền chưa có đầy đủ công cụ pháp lý hoặc cơ chế cưỡng chế phù hợp để bảo đảm thi hành. Đối với một số trường hợp cụ thể, mặc dù đã áp dụng các biện pháp đôn đốc, thông báo, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo quy định nhưng người vi phạm vẫn cố tình không chấp hành, dẫn đến kéo dài thời gian thi hành hoặc không thể thi hành dứt điểm quyết định xử phạt.
Bên cạnh đó, sự phát triển của kinh tế - xã hội, quá trình chuyển đổi số, sự thay đổi trong phương thức quản lý nhà nước cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Một số quy định hiện hành về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt chưa theo kịp yêu cầu quản lý trong tình hình mới, chưa bao quát hết các tình huống phát sinh trên thực tế, làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác xử lý vi phạm hành chính cũng như hiệu lực thực thi pháp luật.
Việc sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính là cần thiết nhằm khắc phục những bất cập, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện; hoàn thiện cơ chế bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tăng cường tính răn đe, phòng ngừa vi phạm; đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Qua đó, bảo đảm mọi quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện nghiêm túc, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, công khai, minh bạch và thượng tôn pháp luật.
II. NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ BẤT CẬP CỦA LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Qua thực tiễn tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho thấy, công tác cưỡng chế còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cả từ phía đối tượng bị cưỡng chế, cơ quan thực thi và hệ thống pháp luật hiện hành.
1. Trước hết, từ phía đối tượng bị cưỡng chế
- Nhiều cá nhân, tổ chức cố tình chây ỳ, không hợp tác và không tự giác chấp hành quyết định xử phạt. Thậm chí, một số trường hợp còn tìm cách trốn tránh, né tránh việc thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Tẩu tán tài sản, rút tiền khỏi tài khoản: Khi biết có khả năng bị cưỡng chế, đối tượng thường nhanh chóng chuyển tài sản, rút hết tiền trong tài khoản hoặc không cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng, gây khó khăn cho biện pháp khấu trừ tiền.
- Không có tài sản hoặc tài sản không đủ để cưỡng chế: Đối với các cá nhân, hộ kinh doanh nhỏ hoặc doanh nghiệp "ma", tài sản kê biên thường không có giá trị hoặc không đủ để bù đắp tiền phạt và chi phí cưỡng chế. Trụ sở, phương tiện kinh doanh thường là thuê, mượn.
- Chống đối, cản trở người thi hành công vụ: Một số trường hợp, đối tượng không chỉ không hợp tác mà còn có hành vi chống đối, cản trở, thậm chí đe dọa, tấn công lực lượng cưỡng chế, gây mất an ninh trật tự.
- Địa chỉ không rõ ràng, thường xuyên thay đổi: Đặc biệt trong lĩnh vực giao thông hoặc thương mại điện tử, việc xác định địa chỉ chính xác của người vi phạm để gửi quyết định xử phạt, thông báo cưỡng chế gặp rất nhiều khó khăn.
2. Khó khăn từ phía cơ quan thực thi và quy định pháp luật
- Thủ tục hành chính rườm rà, mất thời gian: Mặc dù quy trình đã được chuẩn hóa, nhưng các bước như xác minh thông tin, lập dự toán chi phí, phê duyệt dự toán, thông báo cho nhiều bên liên quan... vẫn đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, dễ bị kéo dài.
- Khó khăn trong xác định và định giá tài sản: Khi kê biên tài sản, việc xác định tài sản thuộc sở hữu của đối tượng, định giá tài sản để bán đấu giá hoặc khấu trừ thường phức tạp, đòi hỏi chuyên môn và có thể phát sinh tranh chấp về giá trị.
- Chi phí cưỡng chế cao hơn số tiền phạt: Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là các hành vi vi phạm nhỏ, chi phí cho việc tổ chức lực lượng cưỡng chế, vận chuyển, bảo quản tài sản có thể cao hơn rất nhiều so với số tiền phạt phải thu hồi, gây lãng phí nguồn lực nhà nước.
- Chồng chéo, chưa đồng bộ trong quy định pháp luật: Một số quy định pháp luật giữa các văn bản có thể chưa hoàn toàn đồng bộ, gây lúng túng cho người áp dụng. Ví dụ, việc cưỡng chế đối với các hình thức xử phạt như tước giấy phép, đình chỉ hoạt động khi đối tượng không chấp hành vẫn chưa có biện pháp cưỡng chế cụ thể được quy định rõ ràng.
- Khó khăn trong phối hợp liên ngành: Việc cưỡng chế thường cần sự phối hợp của nhiều cơ quan (công an, kho bạc, ngân hàng, chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn...). Sự phối hợp không đồng bộ, thiếu thống nhất hoặc chậm trễ thông tin có thể làm giảm hiệu quả của quá trình cưỡng chế.
- Hạn chế về nguồn lực và trang thiết bị: Một số địa phương, đơn vị có thể thiếu nguồn lực về nhân sự, kinh phí, hoặc trang thiết bị cần thiết để thực hiện cưỡng chế một cách hiệu quả, đặc biệt đối với các vụ việc quy mô lớn hoặc phức tạp.
- Pháp luật chưa có quy định về xử phạt hành vi "cố tình không tự nguyện thi hành": Hiện nay, chưa có chế tài cụ thể cho hành vi "có điều kiện thi hành nhưng cố tình không tự nguyện thi hành" hoặc "cản trở, gây khó khăn cho việc thi hành", làm giảm tính răn đe.
Những khó khăn trên cho thấy việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính không chỉ là một vấn đề pháp lý mà còn là một thách thức lớn trong thực tiễn quản lý nhà nước, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ, nâng cao năng lực và ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả
III. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN TRONG THỰC HIỆN LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Công an các đơn vị, địa phương đã chủ động ban hành các chương trình, kế hoạch, văn bản triển khai nhiệm vụ cụ thể tới các đơn vị trực thuộc; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc nhằm đưa công tác tổ chức thi hành pháp luật và quản lý về xử phạt VPHC đi vào chiều sâu, thực chất, đồng bộ, từ đó góp phần thực hiện thắng lợi, toàn diện các mặt công tác, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, tạo chuyển biến tích cực về trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật vê an ninh, trật tự, phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.
Toàn lực lượng Công an đã phát hiện và xử lý hàng chục triệu vụ việc VPHC. Trong những năm gần đây, tỉ lệ các vụ việc do lực lượng Công an thụ lý giải quyết chiếm tới hơn 81 - 89% tổng số vụ VPHC trên toàn quốc.
Xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý: Công an đã tham mưu, đóng góp hàng trăm ý kiến chuyên sâu và đưa ra các đánh giá thực tiễn sắc bén để sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý VPHC cùng các văn bản hướng dẫn thi hành (như các Nghị định xử phạt). Điều này giúp khắc phục các lỗ hổng, vướng mắc, tạo khung pháp lý minh bạch.
Phân cấp mạnh mẽ về cơ sở: Triển khai hàng chục nghìn chức danh trong Công an nhân dân có thẩm quyền xử phạt trải dài từ Trung ương đến tận cấp cơ sở, đặc biệt là phát huy tối đa vai trò của Công an xã. Việc này giúp giải quyết các vi phạm hành chính ngay tại địa bàn, nhanh chóng và hiệu quả, giảm thiểu thủ tục hành chính
Ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số: Ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các nền tảng định danh (như tài khoản VNeID), hỗ trợ số hóa hồ sơ xử phạt, tra cứu thông tin nhanh chóng và giúp người dân dễ dàng nộp phạt trực tuyến một cách minh bạch, tiết kiệm thời gian.
Tuyên truyền và hướng dẫn pháp luật: Thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, giúp nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi tái phạm.
IV. NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI CỦA DỰ THẢO LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH (SỬA ĐỔI)
1. Bổ sung đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính là: Cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ, công vụ được giao. Trường hợp cơ quan, đơn vị xác định hành vi vi phạm hành chính thuộc nhiệm vụ, công vụ được giao thì không bị xử phạt vi phạm hành chính mà bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan.
2. Sửa đổi tăng thời hiệu xử lý vi phạm hành chính của một số lĩnh vực có thể lên đến 3 năm.
3. Bổ sung và làm rõ một số tình tiết giảm nhẹ như: (1) Vi phạm hành chính trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra; (2) Người vi phạm hành chính là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; (3) Người vi phạm hành chính là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ
4. Bổ sung những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể: (1) Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ: Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là vi phạm hành chính; Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm hành chính; (2) Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên: Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm hành chính.
5. Sửa đổi tăng mức phạt tiền trong xử lý phạm hành chính từ 1.000.000.000 đồng lên 1.500.000.000 đồng đối với cá nhân; từ 2.000.000.000 đồng lên 3.000.000.000 đồng đối với tổ chức.
6. Tăng mức phạt tiền xử phạt không lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi có mức tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó là 1.000.000 đồng đối với cá nhân, 2.000.000 đồng đối với tổ chức (quy định trước là 500.000 đồng đối với cá nhân, 1.000.000 đối với tổ chức).
7. Bổ sung lĩnh vực Công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, gồm: Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
8. Bổ sung một số biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, gồm: (1) Tạm ngừng xuất cảnh đối với cá nhân, người đứng đầu tổ chức chưa chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính; (2) Niêm phong trụ sở, địa điểm, cơ sở hoặc bộ phận cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; (3) Yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; (4) Tạm dừng đăng kiểm; tạm dừng đăng ký xe; tạm dừng cấp giấy phép lái xe.
Đức Liêm - Tuấn Anh