Thượng tá Ngô Đức Thắng phân tích 07 nhóm chính sách lớn trong sửa đổi Bộ luật Hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế.
Chính sách hình sự không chỉ để xử lý tội phạm mà còn “kiến tạo phát triển”
Tại Toạ đàm chính sách, liên quan Dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Thượng tá Ngô Đức Thắng cho biết dự án Bộ luật đã đề xuất 07 nhóm chính sách lớn nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành pháp luật hình sự, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.
Theo Thượng tá Ngô Đức Thắng, tác động của 07 nhóm chính sách đối với sự phát triển đất nước nói chung và công tác phòng, chống tội phạm nói riêng cũng như đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế khái quát như sau:
Thứ nhất, đối với phát triển kinh tế - xã hội, các chính sách này góp phần tạo môi trường pháp lý ổn định, an toàn, minh bạch cho người dân, doanh nghiệp và các chủ thể đổi mới sáng tạo. Việc hoàn thiện quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt có ý nghĩa bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung; đồng thời khuyến khích người phạm tội hợp tác, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, thu hồi tài sản cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Chính sách hình sự vì vậy không chỉ là công cụ trừng trị, mà còn là công cụ kiến tạo phát triển, khơi thông nguồn lực xã hội và củng cố niềm tin vào sự công khai, minh bạch của pháp luật.
Thứ hai, đối với bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và phòng, chống tội phạm, 07 chính sách tạo cơ sở để khắc phục những khoảng trống pháp lý trước sự xuất hiện của các loại tội phạm mới, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, xâm phạm dữ liệu, không gian mạng, môi trường, tài chính, tiền tệ. Khi các quy định về tội phạm, hình phạt, tình tiết định tội, định khung được hoàn thiện theo hướng rõ ràng, chặt chẽ, dễ áp dụng, thì hiệu quả phát hiện, xử lý, răn đe và phòng ngừa tội phạm sẽ được nâng lên; đồng thời hạn chế tình trạng bỏ lọt tội phạm hoặc xử lý không thống nhất giữa các địa phương, các cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ ba, đối với bảo vệ quyền con người, quyền công dân, các chính sách thể hiện rõ tư tưởng kết hợp giữa nghiêm trị và khoan hồng, giữa răn đe và giáo dục, giữa bảo vệ lợi ích chung và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Hoàn thiện chính sách hình phạt không chỉ nhằm tăng tính nghiêm minh đối với hành vi nguy hiểm, mà còn mở rộng khả năng áp dụng các biện pháp nhân đạo, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân người phạm tội. Đây là yêu cầu quan trọng để pháp luật hình sự không bị tuyệt đối hóa như công cụ trừng phạt, mà trở thành công cụ quản trị xã hội văn minh, công bằng và có tính phục hồi.
Thứ tư, đối với hội nhập quốc tế, việc bổ sung tội danh mới, hành vi mới và hoàn thiện các quy định của BLHS còn nhằm nội luật hóa các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, khuyến nghị của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên, qua đó bảo đảm tính tương thích và hội nhập của pháp luật hình sự Việt Nam. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, rửa tiền, khủng bố, tham nhũng, môi trường ngày càng có tính liên quốc gia, đòi hỏi Việt Nam phải có cơ sở pháp lý đủ mạnh để hợp tác quốc tế về dẫn độ, tương trợ tư pháp hình sự, thu hồi tài sản và phối hợp điều tra, xử lý tội phạm.
Thứ năm, về phương diện xây dựng Nhà nước pháp quyền, khi Bộ luật Hình sự được quy định rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu, dễ áp dụng, pháp luật sẽ hạn chế tùy nghi trong áp dụng, nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, đồng thời củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế vào hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam.
Theo Cổng TTĐT Bộ Công an