
Quang cảnh Hội nghị tại điểm cầu Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội.
Không đầu tư dàn trải, tập trung giải quyết các bài toán lớn của địa phương
Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW chiều 1/7/2026 từ điểm cầu của tỉnh, đồng chí Phạm Đại Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ cho biết, quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, Phú Thọ đã nỗ lực triển khai quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ. Đến nay, Phú Thọ luôn hoàn thành 100% các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao bảo đảm tiến độ, chất lượng; toàn tỉnh hiện không có nhiệm vụ nào bị quá hạn hay tồn đọng.
Theo đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ, qua 1 năm 6 tháng triển khai, Phú Thọ đã rút ra những bài học sâu sắc và đạt được những kết quả mang tính đột phá. Trước hết là thay đổi căn bản về tư duy và nhận thức cách làm. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn được xem là nhiệm vụ riêng của ngành chuyên môn, mà đã thực sự trở thành động lực, nền tảng quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững của tỉnh.
Các chương trình, kế hoạch, đề án, chiến lược phát triển của tỉnh và các địa phương đều lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm trung tâm, gắn chặt với mục tiêu tăng trưởng, cải cách hành chính, nâng cao năng lực quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Phú Thọ đã chuyển từ tư duy “làm theo kế hoạch, quản lý bằng văn bản hành chính” sang tư duy “quản trị dựa trên mục tiêu, điều hành bằng dữ liệu số và đánh giá bằng hiệu quả thực chất”.
Về nhân tài và tự chủ khoa học công nghệ, Phú Thọ nhận thức sâu sắc rằng đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trước hết là đột phá về con người. Tỉnh xác định nhân tài khoa học, công nghệ, nhân lực số chất lượng cao và các nhóm chuyên gia liên ngành là điều kiện then chốt để biến chủ trương thành sản phẩm, biến dữ liệu thành năng lực quản trị và biến công nghệ thành động lực tăng trưởng.
Trong công tác chuyển đổi số, Phú Thọ đã xây dựng Đề án Chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035. Đây là đề án hành động có lộ trình, nhiệm vụ cụ thể gắn với các cơ chế giám sát đến từng đơn vị, nhằm loại bỏ sự lúng túng ở cấp cơ sở.
Để chuyển đổi số nền tảng, Phú Thọ triển khai đổi mới phương thức quản trị, điều hành dựa trên dữ liệu thời gian thực, liên thông 4 trục 2 cấp. Tỉnh đang xây dựng và đưa vào vận hành Hệ thống quản trị, điều hành tăng trưởng dựa trên dữ liệu phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số; gắn với đánh giá KPI, OKR và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dự báo, cảnh báo. Hệ thống được xây dựng với nguyên tắc dữ liệu phải “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Hiện nay, Phú Thọ đang tập trung xây dựng Kho dữ liệu dùng chung của tỉnh. Để tạo bước chuyển biến căn bản, tỉnh chuẩn bị triển khai “Chiến dịch 60 ngày dữ liệu tỉnh Phú Thọ” nhằm tổng rà soát, làm sạch và chuẩn hóa toàn bộ các cơ sở dữ liệu chuyên ngành từ tỉnh đến cơ sở. Cùng với bảo đảm hạ tầng, tỉnh đã bố trí hơn 100 tỷ đồng để muộn nhất trong tháng 8/2026 sẽ hiện đại hóa, thay thế, nâng cấp các trang thiết bị lỗi thời của các cơ quan trong hệ thống chính trị tỉnh.
Theo báo cáo thống kê, quy mô kinh tế số của tỉnh ước chiếm 22,71% GRDP, xếp thứ 3/34 cả nước, với gần 600 doanh nghiệp công nghệ số và tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp số đạt hơn 7 tỷ USD. Các mô hình “Làng số”, “Gia đình số”, “Đại sứ số” gắn với phong trào “Bình dân học vụ số” đã giúp việc sử dụng ứng dụng số dần trở nên quen thuộc với người dân; đồng thời nâng tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn tỉnh đạt trên 95% và kích hoạt hơn 2,4 triệu tài khoản định danh điện tử.
Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Phú Thọ xác định phát triển kinh tế bền vững phải dựa trên năng suất các nhân tố tổng hợp, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng. Tỉnh đã xây dựng Đề án phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn liền với Đề án tăng trưởng kinh tế 2 con số của tỉnh.
Đồng chí Phạm Đại Dương nhấn mạnh, thay vì đầu tư dàn trải, tỉnh đã chủ động nhận diện và tập trung giải quyết các bài toán lớn mang tính chiến lược. Trước mắt, trong năm 2026, tỉnh xác định 6 bài toán lớn, tập trung vào các mũi nhọn kinh tế như công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo chuỗi giá trị, du lịch thông minh, kinh tế trải nghiệm, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, cảnh báo và phòng, chống lũ lụt, sạt lở đất.
Về công nghiệp công nghệ cao, tỉnh đã ban hành Đề án định hướng thu hút FDI thế hệ mới vào các thế mạnh như linh kiện điện tử, bán dẫn. Thông qua chuỗi dự án của các tập đoàn lớn như BYD, Meiko, Compal, Namuga, Phú Thọ thúc đẩy chuyển giao công nghệ để nâng tỷ lệ doanh nghiệp nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu lên trên 50% vào năm 2030, gắn với tiêu chuẩn xanh ESG và Net-Zero.
Về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo chuỗi giá trị, tỉnh tập trung nguồn lực bảo tồn, phát triển các sản phẩm đặc sản đặc thù có giá trị kinh tế; đồng thời triển khai nhiều mô hình chuyển đổi số nông nghiệp đem lại giá trị kinh tế được định lượng rõ ràng. Trong lĩnh vực du lịch, Phú Thọ đặt ra bài toán lớn về xây dựng du lịch thông minh, kinh tế trải nghiệm, công nghiệp văn hóa số; đến nay đã số hóa dữ liệu 3D, VR360 và tích hợp mã QR cho khoảng 100 điểm di tích lịch sử, làng nghề tiêu biểu.
Về môi trường và phát triển bền vững, Phú Thọ xác định chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn là một trong những ưu tiên, nhất là đối với các doanh nghiệp đang tạo ra nhiều phát thải trên địa bàn. Tỉnh cũng đang đề xuất nhiệm vụ cấp quốc gia với Bộ Khoa học và Công nghệ về thí điểm mô hình kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp xanh phát thải thấp hướng tới Net Zero tại Phú Thọ; đồng thời triển khai thành công các mô hình xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn tuần hoàn giúp giữ lại và xử lý 60-70% rác thải tại nguồn.
Để giải quyết các bài toán này, Phú Thọ tập trung vận hành mô hình liên kết “3 Nhà” gồm Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp. Cơ chế “đồng đầu tư” đã giúp thu hút nguồn lực xã hội hóa từ các doanh nghiệp đối ứng lên tới 61,393 tỷ đồng, chiếm 38,9% tổng kinh phí khoa học công nghệ toàn tỉnh. Song song đó, tỉnh tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cơ bản, ứng dụng và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua Trường Đại học Hùng Vương, các trường đại học trên địa bàn tỉnh, gắn với liên kết với Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Theo đồng chí Phạm Đại Dương, với Phú Thọ, tự chủ khoa học công nghệ không có nghĩa là địa phương tự làm tất cả, mà là có năng lực xác định đúng bài toán phát triển của tỉnh; có dữ liệu, tiêu chuẩn và năng lực đánh giá công nghệ; có đội ngũ đủ trình độ để tiếp nhận, làm chủ, cải tiến và vận hành công nghệ; biết liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và chuyên gia trong, ngoài nước để tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu thực tiễn của địa phương.
Tỉnh sẽ không thu hút nhân tài theo phong trào, mà gắn nhân tài với nhiệm vụ lớn, sản phẩm cụ thể và cơ chế trao quyền rõ ràng. Trọng tâm là hình thành các nhóm chuyên gia, nhóm nghiên cứu ứng dụng quanh các bài toán ưu tiên của tỉnh như quản trị dữ liệu và điều hành tăng trưởng, công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch thông minh, kinh tế xanh, đô thị thông minh và cải cách dịch vụ công.
Từ thực tiễn triển khai, Phú Thọ kiến nghị Trung ương quan tâm nội dung về dữ liệu số và nền tảng dùng chung liên thông. Theo tỉnh, đây hiện là điểm nghẽn lớn nhất khiến địa phương gặp khó khăn khi khai thác dữ liệu thời gian thực phục vụ phân tích, điều hành kinh tế - xã hội. Phú Thọ đề nghị các bộ, ban, ngành Trung ương đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các cơ sở dữ liệu chuyên ngành cũng như các quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ để địa phương kết nối, chia sẻ liên thông thông suốt từ Trung ương đến cấp xã.
Đồng thời, Phú Thọ đề nghị Trung ương sớm có khung cơ chế đủ mạnh để địa phương liên kết, đặt hàng, thu hút và trọng dụng nhân tài khoa học, công nghệ; nhất là cơ chế giao nhiệm vụ lớn, đánh giá theo sản phẩm và kết quả cuối cùng, cho phép chuyên gia, viện, trường, doanh nghiệp cùng tham gia giải quyết các bài toán phát triển của địa phương.
Đồng chí Phạm Đại Dương khẳng định, Phú Thọ cam kết tiếp tục đi đầu, sáng tạo và quyết liệt hơn nữa trong tổ chức thực hiện, quyết tâm đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành đôi cánh đưa kinh tế địa phương cất cánh nhanh và bền vững.
Hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hướng tới trung tâm công nghệ cao
Tham luận tại Hội nghị với chủ đề “Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hướng tới trung tâm công nghệ cao của cả nước”, đồng chí Tôn Ngọc Hạnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân Thành phố Đồng Nai cho biết, sau 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57, Đồng Nai đã chuyển mạnh từ quán triệt chủ trương sang tạo ra những kết quả thực chất.
Theo đồng chí Tôn Ngọc Hạnh, phương thức lãnh đạo, điều hành của Đồng Nai được đổi mới theo tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả”. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 99,86%; chỉ số PAR INDEX đạt 93,10%; chỉ số SIPAS đứng thứ 3 toàn quốc; tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu đạt 90%; mô hình quản trị dựa trên dữ liệu bước đầu giúp tiết kiệm cho ngân sách khoảng 34 tỷ đồng mỗi năm.
Đồng Nai đã đạt một số kết quả bước đầu đáng ghi nhận. Trước hết, địa phương đang từng bước hình thành nền quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và chuyển đổi số. Nhiều cơ sở dữ liệu trọng yếu đã được làm sạch, chuẩn hóa; nền tảng dữ liệu tài chính số, dữ liệu không gian nhiều lớp và hệ thống điều hành thông minh IOC được đưa vào vận hành, từng bước chuyển từ quản lý truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu thời gian thực.
Cùng với đó, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bước đầu được hình thành theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm đổi mới, viện, trường là nền tảng tri thức và người dân là chủ thể sáng tạo. Chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo đang được kết nối từ đào tạo, nghiên cứu, phát triển công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp đến thương mại hóa sản phẩm và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Đặc biệt, Đồng Nai đang chủ động tạo lập không gian phát triển mới cho đổi mới sáng tạo và công nghệ cao. Thành phố đã ban hành Chỉ thị về xây dựng Mạng lưới Đổi mới sáng tạo; chuẩn bị đưa 41 không gian sáng tạo cấp xã, phường vào hoạt động; hoàn thiện quy hoạch Khu Đổi mới sáng tạo Bình An, Khu Khoa học và Công nghệ Đồng Xoài và đẩy nhanh các thủ tục pháp lý đối với Khu Công nghệ số tập trung Long Thành. Đây sẽ là những hạt nhân kết nối nghiên cứu, thử nghiệm, ươm tạo và thương mại hóa công nghệ trong thời gian tới.
Bên cạnh những kết quả bước đầu, Đồng Nai cũng thẳng thắn nhìn nhận một số điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ. Bốn điểm nghẽn lớn đang cản trở địa phương gồm: dữ liệu thiếu đồng bộ làm hạn chế năng lực phân tích chiến lược của AI; cơ chế tài chính và khung thử nghiệm công nghệ chưa hoàn thiện; việc thương mại hóa tài sản trí tuệ từ tự chủ đại học còn vướng mắc; nguồn nhân lực công nghệ cao như bán dẫn, AI chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Đồng chí Tôn Ngọc Hạnh cho rằng, những kết quả bước đầu mới là nền tảng ban đầu. Để bứt phá trở thành trung tâm công nghệ cao của cả nước, thời gian tới Đồng Nai sẽ tập trung vào ba nhiệm vụ trọng tâm.
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và huy động nguồn lực cho đổi mới sáng tạo; xây dựng cơ chế thu hút các tập đoàn công nghệ chiến lược trong lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu; phát huy hiệu quả Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm và các mô hình hợp tác công - tư.
Hai là, phát triển nền quản trị theo định hướng “AI-First”; hoàn thiện dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; tích hợp sâu trí tuệ nhân tạo vào điều hành, quản trị và hoạch định chính sách.
Ba là, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện với Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số thành phố làm hạt nhân kết nối Nhà nước, doanh nghiệp, viện, trường và cộng đồng sáng tạo; thúc đẩy hình thành các trung tâm R&D, các doanh nghiệp công nghệ từ kết quả nghiên cứu khoa học và nguồn nhân lực chất lượng cao của địa phương, phối hợp lựa chọn xây dựng mô hình mẫu Trung tâm sáng tạo tại Đại học Lạc Hồng.
Để thực hiện hiệu quả các mục tiêu trên, Đồng Nai đề nghị Trung ương sớm hoàn thiện cơ chế tài chính đồng bộ cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ban hành cơ chế tài chính đặc thù, quỹ đầu tư mạo hiểm và các định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành, tạo điều kiện để các địa phương chủ động, mạnh dạn đổi mới và sáng tạo.
Đồng Nai cũng đề nghị hoàn thiện cơ chế hợp tác công - tư, cơ chế khai thác tài sản công, định giá và phân chia lợi ích từ tài sản trí tuệ; phát huy hiệu quả nguồn lực từ tự chủ đại học, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Cùng với đó, địa phương đề nghị sớm ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới, tạo không gian thể chế đủ rộng để các địa phương chủ động đổi mới, sáng tạo và phát triển.
Đồng Nai xác định mục tiêu không chỉ là thu hút dự án mà phải làm chủ công nghệ, làm chủ dữ liệu để xây dựng năng lực tự chủ, tiến sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Với tinh thần “đi trước một bước về dữ liệu, đi trước một nhịp về thể chế, đi trước một tầm về không gian công nghệ”, thành phố quyết tâm biến hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thành năng lực cạnh tranh thực chất, đưa Đồng Nai bứt phá thành trung tâm công nghệ cao của cả nước.
Theo Cổng TTĐT Đảng Cộng sản Việt Nam