
Đại tá Nguyễn Văn Diêu xem lại ảnh kỷ niệm, kỷ vật.
Giữa năm 1968 khi cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng “Tất cả vì miền nam ruột thịt”, đồng chí Nguyễn Văn Diêu, đang công tác tại Công an huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đã xung phong, tình nguyện viết đơn xin được lên đường chi viện cho An ninh Miền Nam - khi đó ông mới 25 tuổi. Sau hơn 6 tháng hành quân chủ yếu là đi bộ, vượt qua dãy Trường Sơn hùng vỹ và bên nước bạn Lào, ông cùng đồng đội mới đến được căn cứ An ninh Khu 6 tại tỉnh Bình Thuận. Tiếp đó ông được Khu uỷ giao nhiệm vụ hoạt động bí mật tại Ban An ninh tỉnh Tuyên Đức (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), trực tiếp bám trụ tại huyện Đức Trọng. Ở xa Căn cứ, ông phải độc lập tác chiến, tự giữ bí mật, tự lên kế hoạch và tự lo mọi thứ... Chiến đấu trong lòng địch, ông đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, bám đất, bám dân thu thập tình hình và tin tức tình báo phục vụ cho chiến đấu.
Cuộc chiến ngày càng cam go quyết liệt, ông vừa phải đánh địch, vừa xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng trong lòng địch. Ngày dưới hầm bí mật, đêm vào ấp chiến lược liên lạc với cơ sở cách mạng, thu thập tin tức, nắm tình hình. Nguy hiểm luôn cận kề, song ông luôn giữ vững phẩm chất của người đảng viên, người chiến sỹ Công an nhân dân. Phương châm của ông là: Chủ động, bám dân, bám sát địch mà đánh mà hoạt động, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho mình và cho cách mạng, tuyệt đối giữ bí mật ngay cả trong tình huống xấu nhất. Chiến đấu trong lòng địch, ông đã vận dụng sáng tạo các biện pháp nghiệp vụ, đảm bảo tuyệt đối bí mật, thu thập tin tức tình hình địch, vận động quần chúng, phát triển phong trào trong dân, lôi kéo và xây dựng được cơ sở ngay trong hàng ngũ địch, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác và chiến đấu... Hàng đêm ông phải vào vùng địch, gặp gỡ cơ sở bí mật, nắm thông tin, nắm tình hình, mỗi lần đi như vậy là cả một quãng thời gian chứa đầy nguy hiểm, bất chắc, hy sinh. Ông thường xuyên thay đổi đường đi, thời gian gặp cơ sở để giữ bí mật và để tránh vướng phải mìn của địch, bị lộ, bị bắt... Ngay thời gian đầu nằm vùng, qua nắm tình hình ông nhận thấy người dân ở Đức Trọng có khá nhiều người là dân tộc Tày, dân tộc Dao di cư vào Nam từ năm 1954. Với sự nhạy bén, nắm bắt ngay thuận lợi ông đã lên kế hoạch và quyết định dùng tiếng nói dân tộc Tày của mình để tiếp cận, gây thiện cảm với người dân, với cách mạng tiến tới xây dựng cơ sở trong dân. Và ông đã thành công, xây dựng được 9 cơ sở cách mạng trong vùng địch. Đặc biệt, ông đã sáng tạo vận dụng biện pháp nghiệp vụ An ninh để tiếp cận, vận động, giác ngộ và lôi kéo được viên thiếu uý Nguyễn Văn Bảy, sỹ quan cảnh sát nguỵ làm cơ sở cung cấp tin tức thường xuyên cho ta... Nhờ các thông tin quan trọng thu thập được từ Bảy và các cơ sở cách mạng, mọi di biến động của địch, từ các trận càn quét, vây giáp, khủng bố của địch ông đều biết trước, báo cáo Huyện uỷ, Ban chỉ huy quân sự huyện (hoạt động bí mật) Ban An ninh Khu 6 kịp thời đối phó phá tan các hoạt động của địch, bảo đảm an toàn cho cách mạng. Một chiến công mà ông ghi nhớ mãi, đó là phát hiện một cơ sở cách mạng do người tiền nhiệm xây dựng tên là Hoàng Văn Giàu (tức Sáu Giàu) nhưng vừa hoạt động cho ta lại vừa hoạt động cho địch (hoạt động 2 mang). Trong một lần vào nhận tin tại cơ sở này, ông phát hiện một số bất thường, Sáu Giàu đề nghị ông đêm ngủ lại và đưa súng ngắn và lựu đạn cho Sáu Giàu giữ hộ. Ông đã cảnh giác, khôn khéo từ chối và rút mau lẹ. Ông tiếp tục bám sát cơ sở này để xác minh và “tương kế, tựu kế” chủ động cung cấp tin giả qua Sáu Giàu cho địch, vô hiệu hoá và trừng trị kẻ phản bội Sáu giàu...
Những ngày chiến đấu trong lòng địch, ông cùng đồng đội đã bám trụ vững chắc trên địa bàn, bảo vệ an toàn và phát triển cơ sở cách mạng, tổ chức quần chúng đấu tranh chính trị, rải truyền đơn, phá ấp chiến lược, tiêu diệt bọn tay sai, ác ôn, củng cố lòng tin của dân với cách mạng; Kiên cường, dũng cảm, mưu trí và sáng tạo ông đã thu thập được nhiều tin tức tình báo quan trọng về tình hình địch, góp phần tích cực cho công tác đánh địch... Năm 1973, đế quốc Mỹ thua, buộc phải rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam, cách mạng bước sang giai đoạn mới bớt khó khăn, gian khổ, hy sinh hơn. Ông cùng đồng đội không phải nằm hầm bí mật mà hoạt động trong rừng, sát vùng địch tại khu căn cứ Đức Trọng. Ông được An ninh Khu 6 phân công là tổ trưởng tổ An ninh địa bàn Đức Trọng, trực tiếp chỉ đạo hoạt động của tổ công tác. Trong thời gian này ông cùng đồng đội đã lập nhiều chiến công, phá tan các hoạt động tấn công của địch vào căn cứ, truy kích địch, phát hiện và tiêu diệt bọn ác ôn, chỉ điểm, tay sai của địch; củng cố cơ sở cách mạng, từng bước chuyển sang tiến công, đánh địch trên nhiều phương diện. Mặt trận Đức Trọng và Tuyên Đức được Bộ chỉ huy mặt trận, An ninh Khu 6 và An ninh cục Miền Nam đánh giá rất cao về đóng góp cho cách mạng.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ngày 3/4/1975, đồng chí Nguyễn Văn Diêu cùng lực lượng an ninh nằm vùng đã sát cánh cùng quân giải phóng, bộ đội địa phương đánh chiếm sở chỉ huy cảnh sát nguỵ, các cơ quan quan trọng của chế độ Việt Nam cộng hoà tại tỉnh Tuyên Đức; phát hiện, bắt giữ các đối tượng ngoan cố, phản động, tay sai, gián điệp; tiếp quản, thu giữ tài liệu của địch phục vụ lâu dài cho công tác bảo vệ an ninh của đất nước sau này. Ngay sau giải phóng, chính quyền về tay cách mạng đồng chí Nguyễn Văn Diêu được cấp trên bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng phòng Tổ chức cán bộ Ty Công an Lâm Đồng, kiêm Giám đốc Trung tâm đào tạo Công an tại tỉnh Lâm Đồng để kịp thời bổ xung lực lượng cho Công tác quản lý và đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương... Năm 1978 theo nguyện vọng cá nhân, ông được điều chuyển về quê hương, nhận công tác tại Công an tỉnh Tuyên Quang, giữ chức vụ Trưởng phòng Tổ chức cán bộ; năm 1983 ông được Bộ trưởng Bộ Nội Vụ (nay là Bộ Công an) tin tưởng bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Giám đốc Công an tỉnh Tuyên Quang cho đến ngày nghỉ hưu.
Trở về với đời thường, mặc dù mang thương tật chiến tranh và nhiễm chất độc màu da cam 71%, nhưng Đại tá Nguyễn Văn Diêu vẫn tích cực tham gia phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và công tác hội tại địa phương như: Chủ nhiệm Câu lạc bộ Công an hưu trí tỉnh Tuyên Quang, Hội trưởng Hội Cựu Công an Tuyên Quang chi viện cho An ninh Miền Nam...
Hơn 50 năm đã trôi qua, chiến tranh đã lùi vào quá khứ nhưng những chiến công oanh liệt, hào hùng của thế hệ cha anh “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” như Đại tá Nguyễn Văn Diêu cùng đồng đội muôn đời được cả dân tộc trân trọng, ghi công. Đất nước đang bước sang Kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, những người chiến sỹ An ninh năm xưa nay lại tiếp tục góp công, góp sức cho sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, cho sự trường tồn của dân tộc.
Xuân Quang